Làng nghề truyền thống Nón lá Gò Găng, Nhơn Thành

Gọi là nón Gò Găng, bởi nón được bán sỉ ở chợ nón Gò Găng (phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn), còn thật ra, nghề làm nón truyền thống trải khắp các làng Bình Đức, Tân Đức, Tân Nghi, Vĩnh Phú, Châu Thành, Phú Thành, Kiều An… (phường Nhơn Thành, thị xã An Nhơn). Ngay như thôn Thuận Hạnh (xã Bình Thuận, huyện Tây Sơn) cũng có nghề làm nón lá, thôn Phú Gia (xã Cát Tường, huyện Phù Cát) thì nổi danh với nón ngựa…

Sản phẩm nón lá tại Hội chợ triển lãm làng nghề truyền thống trong dịp Festival Tây Sơn - Bình Định 2008

Chiếc nón Gò Găng bây giờ là sự kết hợp hài hòa giữa nón bài thơ xứ Huế và nón ngựa ngày xưa. Nó tiết kiệm được nguyên vật liệu, giảm tính cầu kỳ thái quá, hợp với dân lao động một nắng hai sương. Song, không vì lẽ đó mà mất đi vẻ duyên dáng nên thơ. Ngược lại, với dáng thanh mảnh riêng biệt của mình, nó được nhắc đến nhiều trong thơ ca nhạc họa.

Nghề làm nón Gò Găng có từ thời Tây Sơn - Nguyễn Huệ, việc làm nón ngựa hồi ấy rất dày công và tỉ mẩn. Nón được kết bằng những vành tre cật, chuốt nhỏ như tăm, đan thành 3 lớp mể sườn. Bên ngoài phủ lớp lá kè non chằm bằng những mũi chỉ tàu thơm trắng muốt và đều đặn. Trên đỉnh nón được gắn chụp bạc hoặc đồi mồi có chạm trổ long, ly, qui, phụng. Quai nón được làm bằng những dải lụa đỏ hoặc xanh, chỗ dưới cằm có chỏm tua. Để chằm một chiếc nón ngựa phải mất cả tháng trời công sức. Vì vậy giá thành rất đắt, nó chỉ dành cho những người cao sang quyền quí, những chức sắc quan lại của triều đình. Dần dà theo nhu cầu của giới bình dân, nón ngựa được cải biên thành ngựa đơn, rồi nón buôn, nón chũm rẻ hơn nhiều. Các loại này đều không có chụp, nó được thay bằng những tua ngũ sắc ở chóp nón cho đẹp. Đám cưới ở các vùng làm nón, nhà giàu rước dâu bằng kiệu, chàng rể thì đội nón, đi ngựa. Nhà nào nghèo cũng ráng sắm đôi nón ngựa cho cô dâu chú rể đội đi trong ngày cưới. Vậy nên ca dao có câu:

Cưới nàng đôi nón Gò Găng

Xấp lãnh An Thái một khăn trầu nguồn

Ngày nay, các cô gái làng nón hầu như ít còn giữ được phương pháp làm nón ngựa nữa. Họ quen với công đoạn nhanh, giản tiện và đểtiêu thụ của chiếc nón trắng mảnh mai, một sản phẩm của quá trình cải cách lâu dài. Để làm loại nón này cũng phải qua nhiều công đoạn. Trong đó làm lá là công đoạn khó nhất. Người xưa đã dặn:

Anh về Bình Định ba ngày

Gởi mua chiếc nón, lá dày không mua

Mỗi nón phải xây với 18-19 lá ở độ tuổi thích hợp. Nếu lá quá tuổi sẽ dẫn đến màu vàng như nón mắc mưa, thếp lá dày không thanh mảnh; lá nhỏ tuổi thì nhiều gân xanh, làm cho mặt nón thô nhám mất đi vẻ mượt mà dễcảm. Đầu mối chính của nghề nón là thị tứ Gò Găng. Nơiđây có một chợ nón lớn, họp thường xuyên từ 3, 4 giờ sáng. Cứ hết một đợt làm được 25- 30 chiếc thì bà con các vùng phụ cận lại mang nón đến bán và mua sắm vật liệu cho đợt sau. Bắt nguồn từ nơi đây, mỗi tháng Gò Găng có thể cung cấp cho cả nước hơn 50.000 chiếc nón. Tháng ế nhất cũng gần 20.000 chiếc. Trong mấy năm trước đây, nón Gò Găng còn được xuất sang các nước láng giềng như Lào, Campuchia, Trung Quốc... dưới dạng cải biên hình thức cho hợp với xứ người. Từ vùng núi cao nguyên mưa nguồn gió dữ đến các miệt vườn Nam bộ, nón lá Gò Găng đã trở thành vật dụng thân thiết cho mọi người lao động.

Có dịp về lại các vùng quê: Bình Đức, Tân Nghi, Vĩnh Phú hoặc Phú Thành...chúngta sẽ được chứng kiến những cảnh nhộn nhịp đầm ấm quanh ánh đèn ban đêm. Cứ 2, 3 nhà, chị em lại tập trung với nhau. Từ các bác các chị phải đeo kính, tựa cột, đến các em học sinh tuổi 15, 17, họ vui vẻ trò chuyện trong tiếng thì thụp của mũi kim chằm nón. Trong một ngày đêm một người làm nón giỏi cũng được 8, 9 chiếc. Với giá thu nhập hiện thời họ có thể nuôi sống cả gia đình 3, 4 miệng ăn.

Từ trước đến nay, người ta vẫn coi nghề làm nón là nghề phụ không đáng kể. Nhưng với thực tế thì ngược lại. Nghề này rất hợp với chị em phụ nữ ở nông thôn. Sau mùa làm mạ gieo cấy, họ sử dụngthời gian nông nhàn để làm nón. Công việc nhanh có tiền lại không nhiều vốn như các nghề khác.

Nói như vậy không phải làm nón là một việc dễ dàng. Để làm được 10 chiếc nón trong ngày, chị em phải ngồi liên tục trong 14-15 giờ đồng hồ không nghỉ ngơi. Đôi bàn tay cầm kim phải dùng lực của ngón cái và ngón trỏ để cắm và rút kim, cũng ê ẩm nặng nhọc chẳng khác gì người gánh lúa. Những cô gái mái tóc trăng tròn xõabên vành nón, miệt mài với từng mũi kim đường nức, bàn tay mềm mại vuốt lên từng thếp lá như truyền thêm vẻ hấp dẫn cho một nét đẹp dân tộc không dễ dàng chối bỏ.

Có thể nói, nón Gò Găng đã se duyên cho bao mối tình thi vị. Tao nhân mặc khách làm sao có thể cầm lòng trước mái tóc thề nón nghiêng che nửa mặt, tà áo dài bay kín đáo mà duyên dáng cả một góc trời...

Năm 2007, UBND tỉnh Bình Định đã công nhận Làng nghề Nón lá Gò Găng đạt tiêu chí làng nghề truyền thống.

(Tổng hợp từ nguồn: Báo Bình Định)